Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng: Đánh giá hiệu quả mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp vụ Mùa 2026

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng: Đánh giá hiệu quả mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp vụ Mùa 2026

Ngày 28/9/2026, tại xã Hồng Châu, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng chủ trì, phối hợp với UBND xã Hồng Châu và UBND xã Tân An tổ chức Hội nghị tham quan, tổng kết, đánh giá hiệu quả Mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp vụ Mùa 2026.



Hình ảnh các đại biểu thăm quan thực tế Mô hình

tại thôn Văn Diệm, xã Hồng Châu

Tham dự Hội nghị có đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; đại diện Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tại Việt Nam; lãnh đạo, chuyên viên Phòng Kinh tế, trưởng các thôn, đại diện Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và các hộ nông dân tham gia mô hình trên địa bàn xã Hồng Châu và xã Tân An; đại diện Công ty Cổ phần DAP Đình Vũ - Vinachem, Công ty TNHH Mầm Vàng cùng các đơn vị phối hợp.

Từ yêu cầu sản xuất hiệu quả đến mục tiêu giảm phát thải

Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng đang đứng trước yêu cầu ngày càng cao về nâng cao hiệu quả kinh tế, sử dụng tiết kiệm vật tư đầu vào, bảo vệ môi trường và từng bước giảm phát thải khí nhà kính,.. là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

Trên cơ sở đó, vụ Mùa năm 2026, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật triển khai 03 mô hình với tổng quy mô 17 ha, trong đó 02 mô hình tại xã Hồng Châu và 01 mô hình tại xã Tân An, nhằm đánh giá đồng thời hiệu quả của các phương thức gieo cấy và công thức sử dụng phân bón, làm cơ sở tuyên truyền, hướng dẫn và từng bước nhân rộng trong sản xuất.

Các mô hình được xây dựng gắn với mục tiêu thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”, tập trung vào sử dụng phân bón cân đối, hợp lý; giảm chi phí đầu vào; nâng cao hiệu quả kinh tế; đẩy mạnh cơ giới hóa và từng bước giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa.

Đa dạng phương thức canh tác, cùng hướng đến hiệu quả

Tại xã Hồng Châu, mô hình thứ nhất được triển khai tại thôn Văn Diệm với giống lúa HDR7, quy mô 5 ha, áp dụng phương thức mạ khay, cấy máy, kết hợp sử dụng phân bón DAP Đình Vũ 16-44+S và một số loại phân khác.

Mô hình thứ hai tại thôn An Lý, xã Hồng Châu, quy mô 5 ha, sử dụng giống Nếp 415, cấy tay truyền thống và cũng sử dụng phân bón DAP Đình Vũ 16-44+S

Tại xã Tân An, mô hình thứ ba được triển khai tại thôn Hữu Chung với quy mô 7 ha, sử dụng giống VNR20, áp dụng gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân, trong đó sử dụng loại phân bón hỗn hợp NPK 20-10-10 của MTK.  Đây là phương thức có khả năng giảm công lao động ở khâu gieo cấy, đồng thời đưa phân bón vào vùng rễ, góp phần hạn chế thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

Các mô hình đều được bố trí ruộng mô hình và ruộng đối chứng có điều kiện sản xuất tương đối đồng đều để theo dõi, so sánh các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế.

Qua theo dõi cho thấy, các giống lúa trong mô hình sinh trưởng, phát triển khá tốt. Phương thức mạ khay, cấy máy tại xã Hồng Châu giúp giảm đáng kể nhu cầu lao động trực tiếp, tạo mật độ cấy tương đối đồng đều và thuận lợi cho quản lý đồng ruộng. Trong khi đó, phương thức gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân tại xã Tân An vừa giảm công lao động, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.

Năng suất và hiệu quả kinh tế đều có tín hiệu tích cực

Một trong những kết quả đáng chú ý của mô hình là năng suất thực thu của cả 03 mô hình đều cao hơn ruộng đối chứng.

Mô hình gieo xạ bằng máy kết hợp vùi phân tại Tân An

Cụ thể, mô hình HDR7 mạ khay, cấy máy tại xã Hồng Châu đạt năng suất 232 kg/sào, trong khi ruộng đối chứng đạt 221 kg/sào. Mô hình Nếp 415 cấy tay đạt 213 kg/sào, cao hơn mức 197 kg/sào của ruộng đối chứng. Đối với mô hình VNR20 gieo thẳng bằng máy, kết hợp vùi phân tại xã Tân An, năng suất đạt 244 kg/sào, trong khi đối chứng đạt 232 kg/sào.

Mô hình cấy máy mạ khay tại Hồng Châu

Đặc biệt, kết quả hạch toán kinh tế cho thấy cả 03 mô hình đều có lợi nhuận cao hơn ruộng đối chứng.

Đối với mô hình HDR7 mạ khay, cấy máy, tổng chi phí sản xuất đạt 1,24 triệu đồng/sào, thấp hơn 150.000 đồng/sào so với đối chứng. Năng suất cao hơn giúp tổng thu tăng 88.000 đồng/sào; lợi nhuận đạt 616.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 238.000 đồng/sào, tương đương 6,611 triệu đồng/ha.


Cán bộ Chi cục báo cáo kết quả thực hiện Mô hình

Mô hình Nếp 415 cấy tay có tổng chi phí 1,35 triệu đồng/sào, thấp hơn đối chứng 6.000 đồng/sào; tổng thu cao hơn 144.000 đồng/sào. Lợi nhuận đạt 567.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 150.000 đồng/sào, tương đương 4,166 triệu đồng/ha. Kết quả này cho thấy ngay cả trong điều kiện vẫn duy trì phương thức cấy tay truyền thống, việc sử dụng phân bón đúng, cân đối và hiệu quả vẫn có thể góp phần giảm chi phí và nâng cao lợi nhuận.

Đáng chú ý, mô hình VNR20 gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân tại xã Tân An có tổng chi phí thấp hơn đối chứng 320.000 đồng/sào, trong khi tổng thu cao hơn 96.000 đồng/sào. Lợi nhuận đạt 826.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 376.000 đồng/sào, tương đương 10,444 triệu đồng/ha. Đây là mô hình thể hiện rõ hiệu quả kết hợp giữa cơ giới hóa gieo cấy, giảm vật tư đầu vào và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.

Như vậy, tổng hợp cả 03 mô hình, mức chênh lệch lợi nhuận so với ruộng đối chứng đạt từ 150.000 - 376.000 đồng/sào, tương đương khoảng 4,166 - 10,444 triệu đồng/ha. Kết quả bước đầu cho thấy sử dụng phân bón đúng, hợp lý kết hợp với cơ giới hóa gieo cấy có khả năng mang lại hiệu quả kép: giảm chi phí đầu vào, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Giảm phát thải bắt đầu từ những thay đổi trên đồng ruộng

Một nội dung quan trọng được trao đổi tại Hội nghị là giảm phát thải trong sản xuất lúa không phải là vấn đề xa rời thực tiễn sản xuất, mà bắt đầu từ những giải pháp rất cụ thể.

Thông qua các mô hình, việc hạn chế bón thừa, đặc biệt là phân đạm; bón phân đúng thời điểm; cân đối dinh dưỡng; giảm lượng vật tư đầu vào; cơ giới hóa gieo cấy và vùi phân được xác định là những giải pháp có tính khả thi trong xây dựng mô hình sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải.

Cùng với đó, công tác bảo vệ thực vật tại các mô hình được thực hiện theo nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp, tăng cường điều tra, theo dõi đồng ruộng và chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi mật độ, tỷ lệ hại đạt ngưỡng; lựa chọn đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và bảo đảm thời gian cách ly. Việc sử dụng phân bón cân đối, chăm sóc cây lúa hợp lý cũng góp phần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng khỏe, nâng cao khả năng chống chịu và hạn chế vật tư đầu vào không cần thiết.



Đại biểu tham dự phát biểu thảo luận

Tại Hội nghị, các đại biểu đã tham quan thực tế mô hình, nghe báo cáo kết quả triển khai, đánh giá hiệu quả; đồng thời trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình tổ chức sản xuất.

Tiếp tục hoàn thiện để từng bước nhân rộng

Phát biểu tiếp thu và bế mạc Hội nghị, đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trân trọng cảm ơn các đại biểu, các đơn vị phối hợp và bà con nông dân đã tích cực tham gia triển khai mô hình; đồng thời khẳng định những ý kiến trao đổi tại Hội nghị xuất phát từ thực tiễn sản xuất, là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện nội dung chuyên môn, đánh giá chính xác hơn hiệu quả mô hình và nghiên cứu khả năng nhân rộng trong thời gian tới.



Đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhấn mạnh, sử dụng phân bón đúng, cân đối và hiệu quả trước hết phải gắn với lợi ích trực tiếp của người nông dân; giảm phát thải cần được thực hiện đồng thời với giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư và tăng lợi nhuận. Cơ giới hóa cũng cần gắn với tổ chức sản xuất, điều kiện đồng ruộng, quy mô diện tích và hệ thống dịch vụ máy móc phù hợp.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, Chi cục cũng xác định cần tiếp tục theo dõi, đánh giá trong các vụ sản xuất tiếp theo. Đặc biệt, việc định lượng phát thải khí nhà kính, trong đó có phát thải CH₄ (Metan) trên ruộng lúa, cần được tiếp tục đo đếm, hoàn thiện phương pháp và có thêm dữ liệu qua nhiều vụ để đánh giá ổn định và xác định khả năng nhân rộng.

Kết quả của 03 mô hình tại xã Hồng Châu và xã Tân An bước đầu cho thấy, sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải có thể bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể trên đồng ruộng: sử dụng phân bón đúng và cân đối, giảm vật tư không cần thiết, đẩy mạnh cơ giới hóa, quản lý đồng ruộng tốt hơn và tổ chức sản xuất khoa học hơn.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh, nâng cao giá trị sản xuất và sử dụng hiệu quả nguồn lực của thành phố Hải Phòng. Kết quả mô hình sẽ là cơ sở thực tiễn để tiếp tục tuyên truyền, hướng dẫn nông dân, hợp tác xã và địa phương áp dụng các giải pháp phù hợp, từng bước hình thành phương thức sản xuất lúa hiệu quả, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và có khả năng nhân rộng trên địa bàn thành phố.



Thông tin mới nhất